Mode:     
23 Tháng Bảy 2018
   VỀ ISCHOOLNET
   Login  
Đặc san Kỷ niệm 15 năm thành lập trường Minimize
Nhà bác học, danh nhân văn hóa và Cuộc thi Tài trí mang tên Lê Quý Đôn
Cập nhật bởi: bgh_lvc - Vào ngày: 13/11/2007 11:44:00 SA - Số lượt xem: 13759
Lê Quý Đôn (chữ Hán: 黎貴敦), tên thật Lê Danh Phương là quan của nhà Hậu Lê đồng thời có thể coi là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực. Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (2 tháng 8 năm 1726), quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và mất ngày 14 tháng Tư năm Giáp Thìn (2 tháng 6 năm 1784) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45.

TỪ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Tiểu sử
Lê Quý Đôn là con trai thứ của ông Lê Trọng Thứ. Thân sinh của Lê Quý Đôn đậu tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (1721) và làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thư, được phong tước Hầu.
Thuở nhỏ, ông có tên là Danh Phương, sau đổi thành Quý Đôn; tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường.
Khi còn bé, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng là thần đồng. Nhiều sách chép tiểu sử của ông có ghi: năm tuổi đã đọc được nhiều bài Kinh Thi, mười tuổi đã học sử. Năm 13 tuổi (1739), theo cha lên kinh đô học, đến năm 18 tuổi, ông đậu Giải nguyên kỳ thi Hương trường thi Sơn Nam. Sau đó, dự thi Hội không đỗ, ông về quê nhà dạy học và viết sách.
Năm 1752, Lê Quý Đôn được 27 tuổi, ông đỗ đầu thi Hội và khi vào thi Đình ông cũng đậu đầu Bảng Nhãn tức Tam Nguyên (Khoá này không lấy Trạng Nguyên). Sau khi thi đỗ, Lê Quý Đôn được bổ nhiệm chức Thụ Thư ở Viện Hàn Lâm. Năm 1754, ông được bổ làm Hàn lâm thừa chỉ rồi sung Toản tu Quốc sử quán. Năm 1756, ông đi liêm phóng ở trấn Sơn Nam, phát giác được 7 viên quan hối lộ. Vào tháng 5 năm 1756, ông được biệt phái sang Phủ Chúa, coi phiên binh, đến tháng 8 ông đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa. Lúc về triều ông dâng bài điều trần gồm 19 khoản nói về chức Chưởng phiên binh. Chúa Trịnh xem khen ngợi và thưởng 50 lạng bạc. Năm 1757, Lê Quý Đôn được thăng chức Thị Giảng Viện Hàn Lâm.
Tháng 6 năm Kỷ Mão niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (1759) triều vua Lê Hiển Tông, thượng hoàng Lê Ý Tông mất. Sang tháng Giêng năm Canh Thìn (1760) triều đình cử một phái đoàn sứ bộ đi báo tang và dâng cống lễ với nhà Thanh. Lê Quý Đôn và Trịnh Xuân Chú được cử làm phó sứ.
Trong dịp này, khi sứ đoàn An Nam đi qua các phủ châu Trung Hoa đều bị họ gọi là Di Quan Di Mục, nghĩa là quan lại mọi rợ. Khi sứ đoàn đến Quế Lâm, Lê Quý Đôn viết thư cho quan tổng trấn Quảng Châu để phản đối sự kiện nầy. Với uy tín và học vấn của Lê Quý Đôn, triều đình Trung Hoa đành phải chấp nhận bỏ những danh từ miệt thị khinh khi này và gọi sứ đoàn là An Nam Cống Sứ.
Năm 1762, Lê Quý Đôn về triều được thăng chức Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ. Ông lập Bí Thư Các và dâng sớ xin thiết lập pháp chế để trị dân nhưng không được triều đình chấp thuận và bổ ông làm Tham chính Hải Dương.
Năm 1765, ông từ quan xin cáo hưu về sống nơi quê nhà, viết sách.
Năm 1767, Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm nối ngôi Chúa, Lê Quý Đôn được phục chức Thi Thư và tham gia biên soạn Quốc Sử kiêm chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám.
Năm 1770, ông được thăng chức Công Bộ Hữu Thị Lang. Mùa xuân năm 1776, ông được bổ làm Hiệp Trấn, Tham Tán Quân Cơ ở xứ đàng Trong.
Năm 1778, ông được bổ nhiệm chức Hành Tham Tụng nhưng cố từ và xin được đổi sang võ ban. Ông được trao chức Hữu Hiệu Điểm, quyền Phủ Sự, phong tước Nghĩa Phái Hầu.
Năm 1781, ông được sung chức Quốc sử Tổng tài.
Năm 1783, ông đi hiệp trấn Nghệ An, không lâu sau thì mất.

Tác phẩm

Với tài trí thông minh và kiến thức uyên bác, Lê Quý Đôn đã để lại cho hậu thế rất nhiều bộ sách có giá trị đủ các thể loại như lịch sử, địa lý, thơ, văn, chú giải kinh điển, triết học, lý số.
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn có thể kể ra như sau:

Lịch sử-địa lý

- Đại Việt thông sử còn gọi là Lê triều thông sử (gồm 30 quyển), là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.
- Phủ biên tạp lục (6 quyển), viết xong năm 1776, ghi chép về tình hình xã hội Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước.
- Bắc sử thông lục (4 quyển) viết xong năm 1763
- Kiến văn tiểu lục (12 quyển), hoàn thành năm 1777, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê. Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở...

Bách khoa thư

Vân đài loại ngữ (9 quyển): Lê Quý Đôn làm xong vào năm 1773, lúc ông 27 tuổi. Đây là một loại "bách khoa thư", đồ sộ nhất thời Trung đại Việt Nam, trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội... Vân đài loại ngữ là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.

Thơ, văn

- Toàn Việt thi lục: hoàn thành năm 1768, ghi chép chọn lọc khoảng 2.000 bài thơ của 175 tác giả từ thời - Trần đến đời Lê.

Triết học, lý số

- Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện: ghi chép lại những suy ngẫm khi ông khảo cứu Kinh truyện Trung Hoa.
- Kim Cang Kinh chú giải
- Thư Kinh diễn nghĩa
- Dịch Kinh phu thuyết
- Thái Ất quái vận
- Thái Ất dị giản lục

… ĐẾN CUỘC THI TÀI TRÍ MANG TÊN LÊ QUÝ ĐÔN

Trước nhu cầu giáo dục truyền thống và nhu cầu tìm ra nhiều hình thức sinh hoạt ngoài giờ lên lớp vừa gần gũi với học sinh vừa mang dấu ấn riêng của nhà trường, năm học 1999-2000 một thành viên Ban Giám hiệu đã tìm đọc rất nhiều tài liệu viết về cuộc đời và sự nghiệp của Nhà bác học Lê Quý Đôn, danh nhân văn hoá Việt Nam thế kỉ XVIII mà trường vinh dự mang tên và thật bất ngờ, ý tưởng một kịch bản mang tên Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã được hình thành. Điểm gần gũi là 3 phần của cuộc thi gần giống 3 phần của trò chơi trên truyền hình lúc bấy giờ Đường lên đỉnh Olympia: Khởi động, Vượt chướng ngại vật, Về đích. Nét riêng mang dấu ấn của trường Lê Quý Đôn là mỗi phần cuộc thi có tên như sau:
Nổi tiếng thần đồng,
Giải nguyên-Bảng nhãn,
Xứng danh bác học.

Tên mỗi phần thi đều có 4 âm tiết (tiếng), cả 3 phần thi 12 tiếng. Về nội dung, nó gợi lại những gì khái quát nhất tinh anh (thông minh, đỗ đạt, thành tài) của con- người-Lê -Quý- Đôn dù sự phát tiết ở thời thơ ấu chỉ là giai thoại. Về hình thức ngữ âm, ba phần thi đọc lên có tiết tấu khỏe (nhịp 2/4), có sự phối hợp bằng (B) trắc (T) hài hòa… và nhất là ngắn gọn. Thật khó có những cụm từ nào thay thế, thực sự các tên gọi ấy đã kết tinh, tuyệt đẹp.

Từ đó đến nay, dù thể thức thi, hình thức câu hỏi có nhiều thay đổi, linh hoạt, đa dạng nhưng tên của các phần thi không hề thay đổi.
Kịch bản Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã được học sinh các lớp  sử dụng trong các giờ hoạt động tập thể ôn tập cuối tuần. Trong năm, nhà trường tổ chức thi vòng loại theo khối lớp. Tháng 3 hằng năm diễn ra các trận chung kết giữa các khối được tổ chức quy mô tại Trung tâm Văn hóa tỉnh hoặc Trung tâm hội nghị tỉnh Quảng Nam… Toàn bộ phần thưởng của thí sinh đạt giải những năm gần đây đều do Sở GD&ĐT Quảng Nam hoặc do Công ty Bảo Việt, Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Nam tài trợ.
Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn là sân chơi bổ ích, lí thú của học sinh toàn trường. Qua cuộc thi học sinh được ôn tập, mở rộng, nâng cao kiến thức toàn diện, được giao lưu học hỏi lẫn nhau, được rèn luyện tác phong giao tiếp, ứng xử nhạy bén, linh hoạt.
Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã trở thành một hoạt động tập thể truyền thống của học sinh Trường THPT Lê Quý Đôn góp phần làm chuyển biến chất lượng giáo dục nhiều năm qua, khẳng định được vị thế cao của nhà trường trong biểu đồ giáo dục tỉnh Quảng Nam.
Năm học 2006-2007, Ban HĐNG đã lấy một phần cuộc thi đặt tên GIẢI NGUYÊN để tổ chức sinh hoạt ôn tập luân phiên theo khối lớp ở các môn học vào ngày thứ 2 hằng tuần.

Mỗi học sinh khi xa trường, mãi mài không quên không khí sôi động, hấp dẫn, hào hứng, mãi mài không quên cuộc thi có cái tên trang trọng mà gần gũi Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn.

Hãy cùng nói lời hẹn gặp nhau giữa Tháng Ba nhé !

                                                                                                  LÊ VĂN CA

Các tin khác
Ký ức màu xanh 27/05/2009
"Dù năm dù tháng" - Hoàng Phủ Ngọc Tường 12/10/2008
"Tiếng Nghệ" của Nguyễn Bùi Vợi 11/10/2008
Bài thơ "Cây tam cúc" của Hoàng Cầm 11/10/2008
Lời bình bài thơ "Xa lắc mùa thu" 11/10/2008
Đề cử và ứng cử 50 câu thơ hay 11/10/2008
Truyện ngắn 1.120 chữ "Em sẽ gây tai nạn" của LÊ THANH HUỆ 29/12/2007
Ngôi trường trong tôi 09/12/2007
Vẫn mái tóc dài ấy - Đoản văn 09/12/2007
Quan điểm Nho gia trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục 09/12/2007
Truyện ngắn "Hướng dương" 09/12/2007
Giới thiệu tập thơ "Miền nhớ" 17/11/2007
Dấu ấn không quên - Tùy bút 17/11/2007
Thơ - Tú Nhật 13/11/2007
Ngỡ ngàng màu phượng tím 13/11/2007
Trường thân yêu - Suy nghĩ 13/11/2007
Hành trình phương Nam - Ghi chép 13/11/2007
Tiếng nói Sinh viên - Phỏng vấn 13/11/2007
Sân trường ngày ấy 13/11/2007
Đối thoại với mình - Tùy bút 13/11/2007
Đoản văn: Học phí trả bằng... 13/11/2007
Chi bộ trong lòng giáo viên 13/11/2007
Sức trẻ vươn vai - Đoàn trường 10 năm trưởng thành 13/11/2007
Người trong cuộc - Công đoàn cơ sở THPT Lê Quý Đôn 13/11/2007
Lời ngỏ... 07/11/2007
Trường THPT Lê Quý Đôn thành phố Tam Kỳ - Mười năm phát triển 05/11/2007
Open the calendar popup.
 
Đặc san Kỷ niệm 10 năm thành lập trường Minimize
Nhà bác học, danh nhân văn hóa và Cuộc thi Tài trí mang tên Lê Quý Đôn
Cập nhật bởi: bgh_lvc - Vào ngày: 13/11/2007 11:44:00 SA - Số lượt xem: 13760
Lê Quý Đôn (chữ Hán: 黎貴敦), tên thật Lê Danh Phương là quan của nhà Hậu Lê đồng thời có thể coi là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực. Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (2 tháng 8 năm 1726), quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và mất ngày 14 tháng Tư năm Giáp Thìn (2 tháng 6 năm 1784) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45.

TỪ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Tiểu sử
Lê Quý Đôn là con trai thứ của ông Lê Trọng Thứ. Thân sinh của Lê Quý Đôn đậu tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (1721) và làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thư, được phong tước Hầu.
Thuở nhỏ, ông có tên là Danh Phương, sau đổi thành Quý Đôn; tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường.
Khi còn bé, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng là thần đồng. Nhiều sách chép tiểu sử của ông có ghi: năm tuổi đã đọc được nhiều bài Kinh Thi, mười tuổi đã học sử. Năm 13 tuổi (1739), theo cha lên kinh đô học, đến năm 18 tuổi, ông đậu Giải nguyên kỳ thi Hương trường thi Sơn Nam. Sau đó, dự thi Hội không đỗ, ông về quê nhà dạy học và viết sách.
Năm 1752, Lê Quý Đôn được 27 tuổi, ông đỗ đầu thi Hội và khi vào thi Đình ông cũng đậu đầu Bảng Nhãn tức Tam Nguyên (Khoá này không lấy Trạng Nguyên). Sau khi thi đỗ, Lê Quý Đôn được bổ nhiệm chức Thụ Thư ở Viện Hàn Lâm. Năm 1754, ông được bổ làm Hàn lâm thừa chỉ rồi sung Toản tu Quốc sử quán. Năm 1756, ông đi liêm phóng ở trấn Sơn Nam, phát giác được 7 viên quan hối lộ. Vào tháng 5 năm 1756, ông được biệt phái sang Phủ Chúa, coi phiên binh, đến tháng 8 ông đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa. Lúc về triều ông dâng bài điều trần gồm 19 khoản nói về chức Chưởng phiên binh. Chúa Trịnh xem khen ngợi và thưởng 50 lạng bạc. Năm 1757, Lê Quý Đôn được thăng chức Thị Giảng Viện Hàn Lâm.
Tháng 6 năm Kỷ Mão niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (1759) triều vua Lê Hiển Tông, thượng hoàng Lê Ý Tông mất. Sang tháng Giêng năm Canh Thìn (1760) triều đình cử một phái đoàn sứ bộ đi báo tang và dâng cống lễ với nhà Thanh. Lê Quý Đôn và Trịnh Xuân Chú được cử làm phó sứ.
Trong dịp này, khi sứ đoàn An Nam đi qua các phủ châu Trung Hoa đều bị họ gọi là Di Quan Di Mục, nghĩa là quan lại mọi rợ. Khi sứ đoàn đến Quế Lâm, Lê Quý Đôn viết thư cho quan tổng trấn Quảng Châu để phản đối sự kiện nầy. Với uy tín và học vấn của Lê Quý Đôn, triều đình Trung Hoa đành phải chấp nhận bỏ những danh từ miệt thị khinh khi này và gọi sứ đoàn là An Nam Cống Sứ.
Năm 1762, Lê Quý Đôn về triều được thăng chức Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ. Ông lập Bí Thư Các và dâng sớ xin thiết lập pháp chế để trị dân nhưng không được triều đình chấp thuận và bổ ông làm Tham chính Hải Dương.
Năm 1765, ông từ quan xin cáo hưu về sống nơi quê nhà, viết sách.
Năm 1767, Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm nối ngôi Chúa, Lê Quý Đôn được phục chức Thi Thư và tham gia biên soạn Quốc Sử kiêm chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám.
Năm 1770, ông được thăng chức Công Bộ Hữu Thị Lang. Mùa xuân năm 1776, ông được bổ làm Hiệp Trấn, Tham Tán Quân Cơ ở xứ đàng Trong.
Năm 1778, ông được bổ nhiệm chức Hành Tham Tụng nhưng cố từ và xin được đổi sang võ ban. Ông được trao chức Hữu Hiệu Điểm, quyền Phủ Sự, phong tước Nghĩa Phái Hầu.
Năm 1781, ông được sung chức Quốc sử Tổng tài.
Năm 1783, ông đi hiệp trấn Nghệ An, không lâu sau thì mất.

Tác phẩm

Với tài trí thông minh và kiến thức uyên bác, Lê Quý Đôn đã để lại cho hậu thế rất nhiều bộ sách có giá trị đủ các thể loại như lịch sử, địa lý, thơ, văn, chú giải kinh điển, triết học, lý số.
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn có thể kể ra như sau:

Lịch sử-địa lý

- Đại Việt thông sử còn gọi là Lê triều thông sử (gồm 30 quyển), là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.
- Phủ biên tạp lục (6 quyển), viết xong năm 1776, ghi chép về tình hình xã hội Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước.
- Bắc sử thông lục (4 quyển) viết xong năm 1763
- Kiến văn tiểu lục (12 quyển), hoàn thành năm 1777, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê. Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở...

Bách khoa thư

Vân đài loại ngữ (9 quyển): Lê Quý Đôn làm xong vào năm 1773, lúc ông 27 tuổi. Đây là một loại "bách khoa thư", đồ sộ nhất thời Trung đại Việt Nam, trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội... Vân đài loại ngữ là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.

Thơ, văn

- Toàn Việt thi lục: hoàn thành năm 1768, ghi chép chọn lọc khoảng 2.000 bài thơ của 175 tác giả từ thời - Trần đến đời Lê.

Triết học, lý số

- Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện: ghi chép lại những suy ngẫm khi ông khảo cứu Kinh truyện Trung Hoa.
- Kim Cang Kinh chú giải
- Thư Kinh diễn nghĩa
- Dịch Kinh phu thuyết
- Thái Ất quái vận
- Thái Ất dị giản lục

… ĐẾN CUỘC THI TÀI TRÍ MANG TÊN LÊ QUÝ ĐÔN

Trước nhu cầu giáo dục truyền thống và nhu cầu tìm ra nhiều hình thức sinh hoạt ngoài giờ lên lớp vừa gần gũi với học sinh vừa mang dấu ấn riêng của nhà trường, năm học 1999-2000 một thành viên Ban Giám hiệu đã tìm đọc rất nhiều tài liệu viết về cuộc đời và sự nghiệp của Nhà bác học Lê Quý Đôn, danh nhân văn hoá Việt Nam thế kỉ XVIII mà trường vinh dự mang tên và thật bất ngờ, ý tưởng một kịch bản mang tên Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã được hình thành. Điểm gần gũi là 3 phần của cuộc thi gần giống 3 phần của trò chơi trên truyền hình lúc bấy giờ Đường lên đỉnh Olympia: Khởi động, Vượt chướng ngại vật, Về đích. Nét riêng mang dấu ấn của trường Lê Quý Đôn là mỗi phần cuộc thi có tên như sau:
Nổi tiếng thần đồng,
Giải nguyên-Bảng nhãn,
Xứng danh bác học.

Tên mỗi phần thi đều có 4 âm tiết (tiếng), cả 3 phần thi 12 tiếng. Về nội dung, nó gợi lại những gì khái quát nhất tinh anh (thông minh, đỗ đạt, thành tài) của con- người-Lê -Quý- Đôn dù sự phát tiết ở thời thơ ấu chỉ là giai thoại. Về hình thức ngữ âm, ba phần thi đọc lên có tiết tấu khỏe (nhịp 2/4), có sự phối hợp bằng (B) trắc (T) hài hòa… và nhất là ngắn gọn. Thật khó có những cụm từ nào thay thế, thực sự các tên gọi ấy đã kết tinh, tuyệt đẹp.

Từ đó đến nay, dù thể thức thi, hình thức câu hỏi có nhiều thay đổi, linh hoạt, đa dạng nhưng tên của các phần thi không hề thay đổi.
Kịch bản Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã được học sinh các lớp  sử dụng trong các giờ hoạt động tập thể ôn tập cuối tuần. Trong năm, nhà trường tổ chức thi vòng loại theo khối lớp. Tháng 3 hằng năm diễn ra các trận chung kết giữa các khối được tổ chức quy mô tại Trung tâm Văn hóa tỉnh hoặc Trung tâm hội nghị tỉnh Quảng Nam… Toàn bộ phần thưởng của thí sinh đạt giải những năm gần đây đều do Sở GD&ĐT Quảng Nam hoặc do Công ty Bảo Việt, Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Nam tài trợ.
Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn là sân chơi bổ ích, lí thú của học sinh toàn trường. Qua cuộc thi học sinh được ôn tập, mở rộng, nâng cao kiến thức toàn diện, được giao lưu học hỏi lẫn nhau, được rèn luyện tác phong giao tiếp, ứng xử nhạy bén, linh hoạt.
Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã trở thành một hoạt động tập thể truyền thống của học sinh Trường THPT Lê Quý Đôn góp phần làm chuyển biến chất lượng giáo dục nhiều năm qua, khẳng định được vị thế cao của nhà trường trong biểu đồ giáo dục tỉnh Quảng Nam.
Năm học 2006-2007, Ban HĐNG đã lấy một phần cuộc thi đặt tên GIẢI NGUYÊN để tổ chức sinh hoạt ôn tập luân phiên theo khối lớp ở các môn học vào ngày thứ 2 hằng tuần.

Mỗi học sinh khi xa trường, mãi mài không quên không khí sôi động, hấp dẫn, hào hứng, mãi mài không quên cuộc thi có cái tên trang trọng mà gần gũi Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn.

Hãy cùng nói lời hẹn gặp nhau giữa Tháng Ba nhé !

                                                                                                  LÊ VĂN CA

Các tin khác
Ký ức màu xanh 27/05/2009
"Dù năm dù tháng" - Hoàng Phủ Ngọc Tường 12/10/2008
"Tiếng Nghệ" của Nguyễn Bùi Vợi 11/10/2008
Bài thơ "Cây tam cúc" của Hoàng Cầm 11/10/2008
Lời bình bài thơ "Xa lắc mùa thu" 11/10/2008
Đề cử và ứng cử 50 câu thơ hay 11/10/2008
Truyện ngắn 1.120 chữ "Em sẽ gây tai nạn" của LÊ THANH HUỆ 29/12/2007
Ngôi trường trong tôi 09/12/2007
Vẫn mái tóc dài ấy - Đoản văn 09/12/2007
Quan điểm Nho gia trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục 09/12/2007
Truyện ngắn "Hướng dương" 09/12/2007
Giới thiệu tập thơ "Miền nhớ" 17/11/2007
Dấu ấn không quên - Tùy bút 17/11/2007
Thơ - Tú Nhật 13/11/2007
Ngỡ ngàng màu phượng tím 13/11/2007
Trường thân yêu - Suy nghĩ 13/11/2007
Hành trình phương Nam - Ghi chép 13/11/2007
Tiếng nói Sinh viên - Phỏng vấn 13/11/2007
Sân trường ngày ấy 13/11/2007
Đối thoại với mình - Tùy bút 13/11/2007
Đoản văn: Học phí trả bằng... 13/11/2007
Chi bộ trong lòng giáo viên 13/11/2007
Sức trẻ vươn vai - Đoàn trường 10 năm trưởng thành 13/11/2007
Người trong cuộc - Công đoàn cơ sở THPT Lê Quý Đôn 13/11/2007
Lời ngỏ... 07/11/2007
Trường THPT Lê Quý Đôn thành phố Tam Kỳ - Mười năm phát triển 05/11/2007
Open the calendar popup.
 
Đặc san Kỷ niệm 20 năm thành lập trường Minimize
Nhà bác học, danh nhân văn hóa và Cuộc thi Tài trí mang tên Lê Quý Đôn
Cập nhật bởi: bgh_lvc - Vào ngày: 13/11/2007 11:44:00 SA - Số lượt xem: 13761
Lê Quý Đôn (chữ Hán: 黎貴敦), tên thật Lê Danh Phương là quan của nhà Hậu Lê đồng thời có thể coi là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực. Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (2 tháng 8 năm 1726), quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và mất ngày 14 tháng Tư năm Giáp Thìn (2 tháng 6 năm 1784) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45.

TỪ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Tiểu sử
Lê Quý Đôn là con trai thứ của ông Lê Trọng Thứ. Thân sinh của Lê Quý Đôn đậu tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (1721) và làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thư, được phong tước Hầu.
Thuở nhỏ, ông có tên là Danh Phương, sau đổi thành Quý Đôn; tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường.
Khi còn bé, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng là thần đồng. Nhiều sách chép tiểu sử của ông có ghi: năm tuổi đã đọc được nhiều bài Kinh Thi, mười tuổi đã học sử. Năm 13 tuổi (1739), theo cha lên kinh đô học, đến năm 18 tuổi, ông đậu Giải nguyên kỳ thi Hương trường thi Sơn Nam. Sau đó, dự thi Hội không đỗ, ông về quê nhà dạy học và viết sách.
Năm 1752, Lê Quý Đôn được 27 tuổi, ông đỗ đầu thi Hội và khi vào thi Đình ông cũng đậu đầu Bảng Nhãn tức Tam Nguyên (Khoá này không lấy Trạng Nguyên). Sau khi thi đỗ, Lê Quý Đôn được bổ nhiệm chức Thụ Thư ở Viện Hàn Lâm. Năm 1754, ông được bổ làm Hàn lâm thừa chỉ rồi sung Toản tu Quốc sử quán. Năm 1756, ông đi liêm phóng ở trấn Sơn Nam, phát giác được 7 viên quan hối lộ. Vào tháng 5 năm 1756, ông được biệt phái sang Phủ Chúa, coi phiên binh, đến tháng 8 ông đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa. Lúc về triều ông dâng bài điều trần gồm 19 khoản nói về chức Chưởng phiên binh. Chúa Trịnh xem khen ngợi và thưởng 50 lạng bạc. Năm 1757, Lê Quý Đôn được thăng chức Thị Giảng Viện Hàn Lâm.
Tháng 6 năm Kỷ Mão niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (1759) triều vua Lê Hiển Tông, thượng hoàng Lê Ý Tông mất. Sang tháng Giêng năm Canh Thìn (1760) triều đình cử một phái đoàn sứ bộ đi báo tang và dâng cống lễ với nhà Thanh. Lê Quý Đôn và Trịnh Xuân Chú được cử làm phó sứ.
Trong dịp này, khi sứ đoàn An Nam đi qua các phủ châu Trung Hoa đều bị họ gọi là Di Quan Di Mục, nghĩa là quan lại mọi rợ. Khi sứ đoàn đến Quế Lâm, Lê Quý Đôn viết thư cho quan tổng trấn Quảng Châu để phản đối sự kiện nầy. Với uy tín và học vấn của Lê Quý Đôn, triều đình Trung Hoa đành phải chấp nhận bỏ những danh từ miệt thị khinh khi này và gọi sứ đoàn là An Nam Cống Sứ.
Năm 1762, Lê Quý Đôn về triều được thăng chức Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ. Ông lập Bí Thư Các và dâng sớ xin thiết lập pháp chế để trị dân nhưng không được triều đình chấp thuận và bổ ông làm Tham chính Hải Dương.
Năm 1765, ông từ quan xin cáo hưu về sống nơi quê nhà, viết sách.
Năm 1767, Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm nối ngôi Chúa, Lê Quý Đôn được phục chức Thi Thư và tham gia biên soạn Quốc Sử kiêm chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám.
Năm 1770, ông được thăng chức Công Bộ Hữu Thị Lang. Mùa xuân năm 1776, ông được bổ làm Hiệp Trấn, Tham Tán Quân Cơ ở xứ đàng Trong.
Năm 1778, ông được bổ nhiệm chức Hành Tham Tụng nhưng cố từ và xin được đổi sang võ ban. Ông được trao chức Hữu Hiệu Điểm, quyền Phủ Sự, phong tước Nghĩa Phái Hầu.
Năm 1781, ông được sung chức Quốc sử Tổng tài.
Năm 1783, ông đi hiệp trấn Nghệ An, không lâu sau thì mất.

Tác phẩm

Với tài trí thông minh và kiến thức uyên bác, Lê Quý Đôn đã để lại cho hậu thế rất nhiều bộ sách có giá trị đủ các thể loại như lịch sử, địa lý, thơ, văn, chú giải kinh điển, triết học, lý số.
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn có thể kể ra như sau:

Lịch sử-địa lý

- Đại Việt thông sử còn gọi là Lê triều thông sử (gồm 30 quyển), là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.
- Phủ biên tạp lục (6 quyển), viết xong năm 1776, ghi chép về tình hình xã hội Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước.
- Bắc sử thông lục (4 quyển) viết xong năm 1763
- Kiến văn tiểu lục (12 quyển), hoàn thành năm 1777, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê. Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở...

Bách khoa thư

Vân đài loại ngữ (9 quyển): Lê Quý Đôn làm xong vào năm 1773, lúc ông 27 tuổi. Đây là một loại "bách khoa thư", đồ sộ nhất thời Trung đại Việt Nam, trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội... Vân đài loại ngữ là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.

Thơ, văn

- Toàn Việt thi lục: hoàn thành năm 1768, ghi chép chọn lọc khoảng 2.000 bài thơ của 175 tác giả từ thời - Trần đến đời Lê.

Triết học, lý số

- Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện: ghi chép lại những suy ngẫm khi ông khảo cứu Kinh truyện Trung Hoa.
- Kim Cang Kinh chú giải
- Thư Kinh diễn nghĩa
- Dịch Kinh phu thuyết
- Thái Ất quái vận
- Thái Ất dị giản lục

… ĐẾN CUỘC THI TÀI TRÍ MANG TÊN LÊ QUÝ ĐÔN

Trước nhu cầu giáo dục truyền thống và nhu cầu tìm ra nhiều hình thức sinh hoạt ngoài giờ lên lớp vừa gần gũi với học sinh vừa mang dấu ấn riêng của nhà trường, năm học 1999-2000 một thành viên Ban Giám hiệu đã tìm đọc rất nhiều tài liệu viết về cuộc đời và sự nghiệp của Nhà bác học Lê Quý Đôn, danh nhân văn hoá Việt Nam thế kỉ XVIII mà trường vinh dự mang tên và thật bất ngờ, ý tưởng một kịch bản mang tên Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã được hình thành. Điểm gần gũi là 3 phần của cuộc thi gần giống 3 phần của trò chơi trên truyền hình lúc bấy giờ Đường lên đỉnh Olympia: Khởi động, Vượt chướng ngại vật, Về đích. Nét riêng mang dấu ấn của trường Lê Quý Đôn là mỗi phần cuộc thi có tên như sau:
Nổi tiếng thần đồng,
Giải nguyên-Bảng nhãn,
Xứng danh bác học.

Tên mỗi phần thi đều có 4 âm tiết (tiếng), cả 3 phần thi 12 tiếng. Về nội dung, nó gợi lại những gì khái quát nhất tinh anh (thông minh, đỗ đạt, thành tài) của con- người-Lê -Quý- Đôn dù sự phát tiết ở thời thơ ấu chỉ là giai thoại. Về hình thức ngữ âm, ba phần thi đọc lên có tiết tấu khỏe (nhịp 2/4), có sự phối hợp bằng (B) trắc (T) hài hòa… và nhất là ngắn gọn. Thật khó có những cụm từ nào thay thế, thực sự các tên gọi ấy đã kết tinh, tuyệt đẹp.

Từ đó đến nay, dù thể thức thi, hình thức câu hỏi có nhiều thay đổi, linh hoạt, đa dạng nhưng tên của các phần thi không hề thay đổi.
Kịch bản Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã được học sinh các lớp  sử dụng trong các giờ hoạt động tập thể ôn tập cuối tuần. Trong năm, nhà trường tổ chức thi vòng loại theo khối lớp. Tháng 3 hằng năm diễn ra các trận chung kết giữa các khối được tổ chức quy mô tại Trung tâm Văn hóa tỉnh hoặc Trung tâm hội nghị tỉnh Quảng Nam… Toàn bộ phần thưởng của thí sinh đạt giải những năm gần đây đều do Sở GD&ĐT Quảng Nam hoặc do Công ty Bảo Việt, Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Nam tài trợ.
Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn là sân chơi bổ ích, lí thú của học sinh toàn trường. Qua cuộc thi học sinh được ôn tập, mở rộng, nâng cao kiến thức toàn diện, được giao lưu học hỏi lẫn nhau, được rèn luyện tác phong giao tiếp, ứng xử nhạy bén, linh hoạt.
Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã trở thành một hoạt động tập thể truyền thống của học sinh Trường THPT Lê Quý Đôn góp phần làm chuyển biến chất lượng giáo dục nhiều năm qua, khẳng định được vị thế cao của nhà trường trong biểu đồ giáo dục tỉnh Quảng Nam.
Năm học 2006-2007, Ban HĐNG đã lấy một phần cuộc thi đặt tên GIẢI NGUYÊN để tổ chức sinh hoạt ôn tập luân phiên theo khối lớp ở các môn học vào ngày thứ 2 hằng tuần.

Mỗi học sinh khi xa trường, mãi mài không quên không khí sôi động, hấp dẫn, hào hứng, mãi mài không quên cuộc thi có cái tên trang trọng mà gần gũi Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn.

Hãy cùng nói lời hẹn gặp nhau giữa Tháng Ba nhé !

                                                                                                  LÊ VĂN CA

Các tin khác
Ký ức màu xanh 27/05/2009
"Dù năm dù tháng" - Hoàng Phủ Ngọc Tường 12/10/2008
"Tiếng Nghệ" của Nguyễn Bùi Vợi 11/10/2008
Bài thơ "Cây tam cúc" của Hoàng Cầm 11/10/2008
Lời bình bài thơ "Xa lắc mùa thu" 11/10/2008
Đề cử và ứng cử 50 câu thơ hay 11/10/2008
Truyện ngắn 1.120 chữ "Em sẽ gây tai nạn" của LÊ THANH HUỆ 29/12/2007
Ngôi trường trong tôi 09/12/2007
Vẫn mái tóc dài ấy - Đoản văn 09/12/2007
Quan điểm Nho gia trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục 09/12/2007
Truyện ngắn "Hướng dương" 09/12/2007
Giới thiệu tập thơ "Miền nhớ" 17/11/2007
Dấu ấn không quên - Tùy bút 17/11/2007
Thơ - Tú Nhật 13/11/2007
Ngỡ ngàng màu phượng tím 13/11/2007
Trường thân yêu - Suy nghĩ 13/11/2007
Hành trình phương Nam - Ghi chép 13/11/2007
Tiếng nói Sinh viên - Phỏng vấn 13/11/2007
Sân trường ngày ấy 13/11/2007
Đối thoại với mình - Tùy bút 13/11/2007
Open the calendar popup.
 
GVCN và HS lớp 12 từ năm 2000 đến 2010 Minimize
Nhà bác học, danh nhân văn hóa và Cuộc thi Tài trí mang tên Lê Quý Đôn
Cập nhật bởi: bgh_lvc - Vào ngày: 13/11/2007 11:44:00 SA - Số lượt xem: 13762
Lê Quý Đôn (chữ Hán: 黎貴敦), tên thật Lê Danh Phương là quan của nhà Hậu Lê đồng thời có thể coi là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực. Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (2 tháng 8 năm 1726), quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và mất ngày 14 tháng Tư năm Giáp Thìn (2 tháng 6 năm 1784) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45.

TỪ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Tiểu sử
Lê Quý Đôn là con trai thứ của ông Lê Trọng Thứ. Thân sinh của Lê Quý Đôn đậu tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (1721) và làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thư, được phong tước Hầu.
Thuở nhỏ, ông có tên là Danh Phương, sau đổi thành Quý Đôn; tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường.
Khi còn bé, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng là thần đồng. Nhiều sách chép tiểu sử của ông có ghi: năm tuổi đã đọc được nhiều bài Kinh Thi, mười tuổi đã học sử. Năm 13 tuổi (1739), theo cha lên kinh đô học, đến năm 18 tuổi, ông đậu Giải nguyên kỳ thi Hương trường thi Sơn Nam. Sau đó, dự thi Hội không đỗ, ông về quê nhà dạy học và viết sách.
Năm 1752, Lê Quý Đôn được 27 tuổi, ông đỗ đầu thi Hội và khi vào thi Đình ông cũng đậu đầu Bảng Nhãn tức Tam Nguyên (Khoá này không lấy Trạng Nguyên). Sau khi thi đỗ, Lê Quý Đôn được bổ nhiệm chức Thụ Thư ở Viện Hàn Lâm. Năm 1754, ông được bổ làm Hàn lâm thừa chỉ rồi sung Toản tu Quốc sử quán. Năm 1756, ông đi liêm phóng ở trấn Sơn Nam, phát giác được 7 viên quan hối lộ. Vào tháng 5 năm 1756, ông được biệt phái sang Phủ Chúa, coi phiên binh, đến tháng 8 ông đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa. Lúc về triều ông dâng bài điều trần gồm 19 khoản nói về chức Chưởng phiên binh. Chúa Trịnh xem khen ngợi và thưởng 50 lạng bạc. Năm 1757, Lê Quý Đôn được thăng chức Thị Giảng Viện Hàn Lâm.
Tháng 6 năm Kỷ Mão niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (1759) triều vua Lê Hiển Tông, thượng hoàng Lê Ý Tông mất. Sang tháng Giêng năm Canh Thìn (1760) triều đình cử một phái đoàn sứ bộ đi báo tang và dâng cống lễ với nhà Thanh. Lê Quý Đôn và Trịnh Xuân Chú được cử làm phó sứ.
Trong dịp này, khi sứ đoàn An Nam đi qua các phủ châu Trung Hoa đều bị họ gọi là Di Quan Di Mục, nghĩa là quan lại mọi rợ. Khi sứ đoàn đến Quế Lâm, Lê Quý Đôn viết thư cho quan tổng trấn Quảng Châu để phản đối sự kiện nầy. Với uy tín và học vấn của Lê Quý Đôn, triều đình Trung Hoa đành phải chấp nhận bỏ những danh từ miệt thị khinh khi này và gọi sứ đoàn là An Nam Cống Sứ.
Năm 1762, Lê Quý Đôn về triều được thăng chức Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ. Ông lập Bí Thư Các và dâng sớ xin thiết lập pháp chế để trị dân nhưng không được triều đình chấp thuận và bổ ông làm Tham chính Hải Dương.
Năm 1765, ông từ quan xin cáo hưu về sống nơi quê nhà, viết sách.
Năm 1767, Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm nối ngôi Chúa, Lê Quý Đôn được phục chức Thi Thư và tham gia biên soạn Quốc Sử kiêm chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám.
Năm 1770, ông được thăng chức Công Bộ Hữu Thị Lang. Mùa xuân năm 1776, ông được bổ làm Hiệp Trấn, Tham Tán Quân Cơ ở xứ đàng Trong.
Năm 1778, ông được bổ nhiệm chức Hành Tham Tụng nhưng cố từ và xin được đổi sang võ ban. Ông được trao chức Hữu Hiệu Điểm, quyền Phủ Sự, phong tước Nghĩa Phái Hầu.
Năm 1781, ông được sung chức Quốc sử Tổng tài.
Năm 1783, ông đi hiệp trấn Nghệ An, không lâu sau thì mất.

Tác phẩm

Với tài trí thông minh và kiến thức uyên bác, Lê Quý Đôn đã để lại cho hậu thế rất nhiều bộ sách có giá trị đủ các thể loại như lịch sử, địa lý, thơ, văn, chú giải kinh điển, triết học, lý số.
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn có thể kể ra như sau:

Lịch sử-địa lý

- Đại Việt thông sử còn gọi là Lê triều thông sử (gồm 30 quyển), là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.
- Phủ biên tạp lục (6 quyển), viết xong năm 1776, ghi chép về tình hình xã hội Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước.
- Bắc sử thông lục (4 quyển) viết xong năm 1763
- Kiến văn tiểu lục (12 quyển), hoàn thành năm 1777, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê. Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở...

Bách khoa thư

Vân đài loại ngữ (9 quyển): Lê Quý Đôn làm xong vào năm 1773, lúc ông 27 tuổi. Đây là một loại "bách khoa thư", đồ sộ nhất thời Trung đại Việt Nam, trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội... Vân đài loại ngữ là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.

Thơ, văn

- Toàn Việt thi lục: hoàn thành năm 1768, ghi chép chọn lọc khoảng 2.000 bài thơ của 175 tác giả từ thời - Trần đến đời Lê.

Triết học, lý số

- Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện: ghi chép lại những suy ngẫm khi ông khảo cứu Kinh truyện Trung Hoa.
- Kim Cang Kinh chú giải
- Thư Kinh diễn nghĩa
- Dịch Kinh phu thuyết
- Thái Ất quái vận
- Thái Ất dị giản lục

… ĐẾN CUỘC THI TÀI TRÍ MANG TÊN LÊ QUÝ ĐÔN

Trước nhu cầu giáo dục truyền thống và nhu cầu tìm ra nhiều hình thức sinh hoạt ngoài giờ lên lớp vừa gần gũi với học sinh vừa mang dấu ấn riêng của nhà trường, năm học 1999-2000 một thành viên Ban Giám hiệu đã tìm đọc rất nhiều tài liệu viết về cuộc đời và sự nghiệp của Nhà bác học Lê Quý Đôn, danh nhân văn hoá Việt Nam thế kỉ XVIII mà trường vinh dự mang tên và thật bất ngờ, ý tưởng một kịch bản mang tên Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã được hình thành. Điểm gần gũi là 3 phần của cuộc thi gần giống 3 phần của trò chơi trên truyền hình lúc bấy giờ Đường lên đỉnh Olympia: Khởi động, Vượt chướng ngại vật, Về đích. Nét riêng mang dấu ấn của trường Lê Quý Đôn là mỗi phần cuộc thi có tên như sau:
Nổi tiếng thần đồng,
Giải nguyên-Bảng nhãn,
Xứng danh bác học.

Tên mỗi phần thi đều có 4 âm tiết (tiếng), cả 3 phần thi 12 tiếng. Về nội dung, nó gợi lại những gì khái quát nhất tinh anh (thông minh, đỗ đạt, thành tài) của con- người-Lê -Quý- Đôn dù sự phát tiết ở thời thơ ấu chỉ là giai thoại. Về hình thức ngữ âm, ba phần thi đọc lên có tiết tấu khỏe (nhịp 2/4), có sự phối hợp bằng (B) trắc (T) hài hòa… và nhất là ngắn gọn. Thật khó có những cụm từ nào thay thế, thực sự các tên gọi ấy đã kết tinh, tuyệt đẹp.

Từ đó đến nay, dù thể thức thi, hình thức câu hỏi có nhiều thay đổi, linh hoạt, đa dạng nhưng tên của các phần thi không hề thay đổi.
Kịch bản Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã được học sinh các lớp  sử dụng trong các giờ hoạt động tập thể ôn tập cuối tuần. Trong năm, nhà trường tổ chức thi vòng loại theo khối lớp. Tháng 3 hằng năm diễn ra các trận chung kết giữa các khối được tổ chức quy mô tại Trung tâm Văn hóa tỉnh hoặc Trung tâm hội nghị tỉnh Quảng Nam… Toàn bộ phần thưởng của thí sinh đạt giải những năm gần đây đều do Sở GD&ĐT Quảng Nam hoặc do Công ty Bảo Việt, Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Nam tài trợ.
Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn là sân chơi bổ ích, lí thú của học sinh toàn trường. Qua cuộc thi học sinh được ôn tập, mở rộng, nâng cao kiến thức toàn diện, được giao lưu học hỏi lẫn nhau, được rèn luyện tác phong giao tiếp, ứng xử nhạy bén, linh hoạt.
Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã trở thành một hoạt động tập thể truyền thống của học sinh Trường THPT Lê Quý Đôn góp phần làm chuyển biến chất lượng giáo dục nhiều năm qua, khẳng định được vị thế cao của nhà trường trong biểu đồ giáo dục tỉnh Quảng Nam.
Năm học 2006-2007, Ban HĐNG đã lấy một phần cuộc thi đặt tên GIẢI NGUYÊN để tổ chức sinh hoạt ôn tập luân phiên theo khối lớp ở các môn học vào ngày thứ 2 hằng tuần.

Mỗi học sinh khi xa trường, mãi mài không quên không khí sôi động, hấp dẫn, hào hứng, mãi mài không quên cuộc thi có cái tên trang trọng mà gần gũi Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn.

Hãy cùng nói lời hẹn gặp nhau giữa Tháng Ba nhé !

                                                                                                  LÊ VĂN CA

Các tin khác
Ký ức màu xanh 27/05/2009
"Dù năm dù tháng" - Hoàng Phủ Ngọc Tường 12/10/2008
"Tiếng Nghệ" của Nguyễn Bùi Vợi 11/10/2008
Bài thơ "Cây tam cúc" của Hoàng Cầm 11/10/2008
Lời bình bài thơ "Xa lắc mùa thu" 11/10/2008
Đề cử và ứng cử 50 câu thơ hay 11/10/2008
Truyện ngắn 1.120 chữ "Em sẽ gây tai nạn" của LÊ THANH HUỆ 29/12/2007
Ngôi trường trong tôi 09/12/2007
Vẫn mái tóc dài ấy - Đoản văn 09/12/2007
Quan điểm Nho gia trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục 09/12/2007
Truyện ngắn "Hướng dương" 09/12/2007
Giới thiệu tập thơ "Miền nhớ" 17/11/2007
Dấu ấn không quên - Tùy bút 17/11/2007
Thơ - Tú Nhật 13/11/2007
Ngỡ ngàng màu phượng tím 13/11/2007
Trường thân yêu - Suy nghĩ 13/11/2007
Hành trình phương Nam - Ghi chép 13/11/2007
Tiếng nói Sinh viên - Phỏng vấn 13/11/2007
Sân trường ngày ấy 13/11/2007
Đối thoại với mình - Tùy bút 13/11/2007
Open the calendar popup.
 
Hướng về mái trường Lê Quý Đôn Minimize
Nhà bác học, danh nhân văn hóa và Cuộc thi Tài trí mang tên Lê Quý Đôn
Cập nhật bởi: bgh_lvc - Vào ngày: 13/11/2007 11:44:00 SA - Số lượt xem: 13763
Lê Quý Đôn (chữ Hán: 黎貴敦), tên thật Lê Danh Phương là quan của nhà Hậu Lê đồng thời có thể coi là một nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực. Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái thứ 7 (2 tháng 8 năm 1726), quê tại làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và mất ngày 14 tháng Tư năm Giáp Thìn (2 tháng 6 năm 1784) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45.

TỪ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Tiểu sử
Lê Quý Đôn là con trai thứ của ông Lê Trọng Thứ. Thân sinh của Lê Quý Đôn đậu tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (1721) và làm quan đến chức Hình Bộ Thượng Thư, được phong tước Hầu.
Thuở nhỏ, ông có tên là Danh Phương, sau đổi thành Quý Đôn; tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường.
Khi còn bé, Lê Quý Đôn đã nổi tiếng là thần đồng. Nhiều sách chép tiểu sử của ông có ghi: năm tuổi đã đọc được nhiều bài Kinh Thi, mười tuổi đã học sử. Năm 13 tuổi (1739), theo cha lên kinh đô học, đến năm 18 tuổi, ông đậu Giải nguyên kỳ thi Hương trường thi Sơn Nam. Sau đó, dự thi Hội không đỗ, ông về quê nhà dạy học và viết sách.
Năm 1752, Lê Quý Đôn được 27 tuổi, ông đỗ đầu thi Hội và khi vào thi Đình ông cũng đậu đầu Bảng Nhãn tức Tam Nguyên (Khoá này không lấy Trạng Nguyên). Sau khi thi đỗ, Lê Quý Đôn được bổ nhiệm chức Thụ Thư ở Viện Hàn Lâm. Năm 1754, ông được bổ làm Hàn lâm thừa chỉ rồi sung Toản tu Quốc sử quán. Năm 1756, ông đi liêm phóng ở trấn Sơn Nam, phát giác được 7 viên quan hối lộ. Vào tháng 5 năm 1756, ông được biệt phái sang Phủ Chúa, coi phiên binh, đến tháng 8 ông đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa. Lúc về triều ông dâng bài điều trần gồm 19 khoản nói về chức Chưởng phiên binh. Chúa Trịnh xem khen ngợi và thưởng 50 lạng bạc. Năm 1757, Lê Quý Đôn được thăng chức Thị Giảng Viện Hàn Lâm.
Tháng 6 năm Kỷ Mão niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (1759) triều vua Lê Hiển Tông, thượng hoàng Lê Ý Tông mất. Sang tháng Giêng năm Canh Thìn (1760) triều đình cử một phái đoàn sứ bộ đi báo tang và dâng cống lễ với nhà Thanh. Lê Quý Đôn và Trịnh Xuân Chú được cử làm phó sứ.
Trong dịp này, khi sứ đoàn An Nam đi qua các phủ châu Trung Hoa đều bị họ gọi là Di Quan Di Mục, nghĩa là quan lại mọi rợ. Khi sứ đoàn đến Quế Lâm, Lê Quý Đôn viết thư cho quan tổng trấn Quảng Châu để phản đối sự kiện nầy. Với uy tín và học vấn của Lê Quý Đôn, triều đình Trung Hoa đành phải chấp nhận bỏ những danh từ miệt thị khinh khi này và gọi sứ đoàn là An Nam Cống Sứ.
Năm 1762, Lê Quý Đôn về triều được thăng chức Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ. Ông lập Bí Thư Các và dâng sớ xin thiết lập pháp chế để trị dân nhưng không được triều đình chấp thuận và bổ ông làm Tham chính Hải Dương.
Năm 1765, ông từ quan xin cáo hưu về sống nơi quê nhà, viết sách.
Năm 1767, Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm nối ngôi Chúa, Lê Quý Đôn được phục chức Thi Thư và tham gia biên soạn Quốc Sử kiêm chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám.
Năm 1770, ông được thăng chức Công Bộ Hữu Thị Lang. Mùa xuân năm 1776, ông được bổ làm Hiệp Trấn, Tham Tán Quân Cơ ở xứ đàng Trong.
Năm 1778, ông được bổ nhiệm chức Hành Tham Tụng nhưng cố từ và xin được đổi sang võ ban. Ông được trao chức Hữu Hiệu Điểm, quyền Phủ Sự, phong tước Nghĩa Phái Hầu.
Năm 1781, ông được sung chức Quốc sử Tổng tài.
Năm 1783, ông đi hiệp trấn Nghệ An, không lâu sau thì mất.

Tác phẩm

Với tài trí thông minh và kiến thức uyên bác, Lê Quý Đôn đã để lại cho hậu thế rất nhiều bộ sách có giá trị đủ các thể loại như lịch sử, địa lý, thơ, văn, chú giải kinh điển, triết học, lý số.
Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị thất lạc. Những tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn có thể kể ra như sau:

Lịch sử-địa lý

- Đại Việt thông sử còn gọi là Lê triều thông sử (gồm 30 quyển), là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh.
- Phủ biên tạp lục (6 quyển), viết xong năm 1776, ghi chép về tình hình xã hội Đàng Trong từ thế kỷ thứ 18 trở về trước.
- Bắc sử thông lục (4 quyển) viết xong năm 1763
- Kiến văn tiểu lục (12 quyển), hoàn thành năm 1777, là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Trần đến đời Lê. Ông còn đề cập tới nhiều lĩnh vực thuộc chế độ các vương triều Lý, Trần, từ thành quách núi sông, đường xá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc và cách khai thác cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở...

Bách khoa thư

Vân đài loại ngữ (9 quyển): Lê Quý Đôn làm xong vào năm 1773, lúc ông 27 tuổi. Đây là một loại "bách khoa thư", đồ sộ nhất thời Trung đại Việt Nam, trong đó tập hợp các tri thức về triết học, khoa học, văn học... sắp xếp theo thứ tự: Vũ trụ luận, địa lý, điển lệ, chế độ, văn nghệ, ngôn ngữ, văn tự, sản vật tự nhiên, xã hội... Vân đài loại ngữ là bộ sách đạt tới trình độ phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa khá cao, đánh dấu một bước tiến bộ vượt bậc đối với nền khoa học Việt Nam thời phong kiến.

Thơ, văn

- Toàn Việt thi lục: hoàn thành năm 1768, ghi chép chọn lọc khoảng 2.000 bài thơ của 175 tác giả từ thời - Trần đến đời Lê.

Triết học, lý số

- Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện: ghi chép lại những suy ngẫm khi ông khảo cứu Kinh truyện Trung Hoa.
- Kim Cang Kinh chú giải
- Thư Kinh diễn nghĩa
- Dịch Kinh phu thuyết
- Thái Ất quái vận
- Thái Ất dị giản lục

… ĐẾN CUỘC THI TÀI TRÍ MANG TÊN LÊ QUÝ ĐÔN

Trước nhu cầu giáo dục truyền thống và nhu cầu tìm ra nhiều hình thức sinh hoạt ngoài giờ lên lớp vừa gần gũi với học sinh vừa mang dấu ấn riêng của nhà trường, năm học 1999-2000 một thành viên Ban Giám hiệu đã tìm đọc rất nhiều tài liệu viết về cuộc đời và sự nghiệp của Nhà bác học Lê Quý Đôn, danh nhân văn hoá Việt Nam thế kỉ XVIII mà trường vinh dự mang tên và thật bất ngờ, ý tưởng một kịch bản mang tên Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã được hình thành. Điểm gần gũi là 3 phần của cuộc thi gần giống 3 phần của trò chơi trên truyền hình lúc bấy giờ Đường lên đỉnh Olympia: Khởi động, Vượt chướng ngại vật, Về đích. Nét riêng mang dấu ấn của trường Lê Quý Đôn là mỗi phần cuộc thi có tên như sau:
Nổi tiếng thần đồng,
Giải nguyên-Bảng nhãn,
Xứng danh bác học.

Tên mỗi phần thi đều có 4 âm tiết (tiếng), cả 3 phần thi 12 tiếng. Về nội dung, nó gợi lại những gì khái quát nhất tinh anh (thông minh, đỗ đạt, thành tài) của con- người-Lê -Quý- Đôn dù sự phát tiết ở thời thơ ấu chỉ là giai thoại. Về hình thức ngữ âm, ba phần thi đọc lên có tiết tấu khỏe (nhịp 2/4), có sự phối hợp bằng (B) trắc (T) hài hòa… và nhất là ngắn gọn. Thật khó có những cụm từ nào thay thế, thực sự các tên gọi ấy đã kết tinh, tuyệt đẹp.

Từ đó đến nay, dù thể thức thi, hình thức câu hỏi có nhiều thay đổi, linh hoạt, đa dạng nhưng tên của các phần thi không hề thay đổi.
Kịch bản Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã được học sinh các lớp  sử dụng trong các giờ hoạt động tập thể ôn tập cuối tuần. Trong năm, nhà trường tổ chức thi vòng loại theo khối lớp. Tháng 3 hằng năm diễn ra các trận chung kết giữa các khối được tổ chức quy mô tại Trung tâm Văn hóa tỉnh hoặc Trung tâm hội nghị tỉnh Quảng Nam… Toàn bộ phần thưởng của thí sinh đạt giải những năm gần đây đều do Sở GD&ĐT Quảng Nam hoặc do Công ty Bảo Việt, Công ty Bảo hiểm Pjico Quảng Nam tài trợ.
Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn là sân chơi bổ ích, lí thú của học sinh toàn trường. Qua cuộc thi học sinh được ôn tập, mở rộng, nâng cao kiến thức toàn diện, được giao lưu học hỏi lẫn nhau, được rèn luyện tác phong giao tiếp, ứng xử nhạy bén, linh hoạt.
Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn đã trở thành một hoạt động tập thể truyền thống của học sinh Trường THPT Lê Quý Đôn góp phần làm chuyển biến chất lượng giáo dục nhiều năm qua, khẳng định được vị thế cao của nhà trường trong biểu đồ giáo dục tỉnh Quảng Nam.
Năm học 2006-2007, Ban HĐNG đã lấy một phần cuộc thi đặt tên GIẢI NGUYÊN để tổ chức sinh hoạt ôn tập luân phiên theo khối lớp ở các môn học vào ngày thứ 2 hằng tuần.

Mỗi học sinh khi xa trường, mãi mài không quên không khí sôi động, hấp dẫn, hào hứng, mãi mài không quên cuộc thi có cái tên trang trọng mà gần gũi Cuộc thi Tài trí Lê Quý Đôn.

Hãy cùng nói lời hẹn gặp nhau giữa Tháng Ba nhé !

                                                                                                  LÊ VĂN CA

Các tin khác
Ký ức màu xanh 27/05/2009
"Dù năm dù tháng" - Hoàng Phủ Ngọc Tường 12/10/2008
"Tiếng Nghệ" của Nguyễn Bùi Vợi 11/10/2008
Bài thơ "Cây tam cúc" của Hoàng Cầm 11/10/2008
Lời bình bài thơ "Xa lắc mùa thu" 11/10/2008
Đề cử và ứng cử 50 câu thơ hay 11/10/2008
Truyện ngắn 1.120 chữ "Em sẽ gây tai nạn" của LÊ THANH HUỆ 29/12/2007
Ngôi trường trong tôi 09/12/2007
Vẫn mái tóc dài ấy - Đoản văn 09/12/2007
Quan điểm Nho gia trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục 09/12/2007
Truyện ngắn "Hướng dương" 09/12/2007
Giới thiệu tập thơ "Miền nhớ" 17/11/2007
Dấu ấn không quên - Tùy bút 17/11/2007
Thơ - Tú Nhật 13/11/2007
Ngỡ ngàng màu phượng tím 13/11/2007
Trường thân yêu - Suy nghĩ 13/11/2007
Hành trình phương Nam - Ghi chép 13/11/2007
Tiếng nói Sinh viên - Phỏng vấn 13/11/2007
Sân trường ngày ấy 13/11/2007
Đối thoại với mình - Tùy bút 13/11/2007
Open the calendar popup.
 
Bản quyền Trường THPT Lê Quý Đôn
Địa chỉ: 152 Trần Dư, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam    Điện thoại: 0235.3851248
Website: thpt-lequydon.edu.vn
Đơn vị phát triển: Trung tâm CNTT - Truyền thông Quảng Nam (QTI)