04 Tháng Sáu 2020
   VỀ ISCHOOLNET    Login  
Tin tức
HƯỚNG DẪN HỌC TẬP KHỐI 11 CỦA TỔ VĂN
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 11- HKII- TUẦN 26, 27
Cập nhật bởi: v_vtkl - Vào ngày: 30/03/2020 10:17:00 SA - Số lượt xem: 1758
CHIỀU TỐI (MỘ)

                                                                     Hồ Chí Minh
I. Tìm hiểu chung:
1. Nhật kí trong tù:
- Hoàn cảnh ra đời: Tháng 8 năm 1942, với danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và phân bộ quốc tế phản xâm lược của Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của thế giới. Sau nửa tháng đi bộ, đến Túc Vinh, Quảng Tây, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ. Trong suốt 14 tháng ở tù (từ mùa thu năm 1942 đến cuối mùa thu năm 1943), tuy bị đày ải vô cùng cực khổ, Hồ Chí Minh vẫn làm thơ. Người đã sáng tác 133 bài thơ được viết ở trong tù.
- Giá trị cơ bản:
+ Vạch trần bộ mặt xấu xa của chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch.
+ Bức chân dung tự họa con người tinh thần của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bậc đại nhân, đại trí, đại dũng” (Viên Ưng)
2. Bài thơ: bài thứ 31 của Nhật kí trong tù, sáng tác vào cuối mùa thu năm 1942, trên đường đi đày từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo
II. Đọc hiểu văn bản:
1. Nội dung:

a. Hai câu đầu: bức tranh thiên nhiên chiều muộn nơi núi rừng
- Một khung cảnh thiên nơi núi rừng lúc chiều tối. Có cánh chim chiều mỏi mệt đang bay về tổ. Có chòm mây lẻ loi, lũng lờ trôi giữa tầng không. Một không gian rộng lớn, vắng vẻ trong cái thời khắc cuối cùng của một ngày.
+ Hình ảnh cánh chim bay về tổ, về rừng núi thường tượng trưng cho buổi chiều: một nét vẽ phác họa không gian vừa gợi ra ý niệm thời gian. Mặc dù vậy, hình tượng cánh chim trong thơ Bác không chỉ được quan sát ở trạng thái vận động bên ngoài mà còn được cảm nhận ở trạng thái bên trong (mỏi mệt). Ở đây, ngoại cảnh cũng là tâm cảnh, hình ảnh cánh chim chiều mỏi mệt phải chăng là sự phản chiếu trạng thái của người tù".
+ Hình ảnh' 'Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không" gợi nhớ câu thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc lâu: "Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay". Vẫn là một thi liệu quen thuộc nhưng mây trong thơ Bác không mang cái khắc khoải mơ hồ của con người trước hư không mà là một chòm mây cô đơn, đang chậm chậm trôi giữa bầu trời bao la. Chòm mây như có hồn người, nó như mang cái lẻ loi, đơn độc và cái băn khoăn, trăn trở chưa biết tương lai phía trước sẽ đi đến dâu của người tù nơi đất khách.
- Nhân vật trữ tình: Dù trong hoàn cảnh nào, tâm hồn của Bác vẫn luôn hướng về thiên nhiên. Trong hai câu thơ, ta không thấy chân dung người tù khổ ải mà thay vào đó là hình ảnh của bậc tao nhân mặc khách đang ung dung thưởng ngoạn cảnh chiều hôm. Những câu thơ mềm mại nhưng lại có thép bên trong. Nếu không có ý chí, nghị lực phi thường và sự tự chủ, tự do về tinh thần thì không thể có được những vần thơ như thế trong hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt.
* Tóm lại: Một bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển nhưng bình dị, gần gũi. Thiên nhiên không chỉ có hình xác mà còn có linh hồn. Đó cũng là cảnh ngộ và tâm trạng của người tù xa xứ. Hai câu thơ không nói thép nhưng lại rất thép.
b. Hai câu cuối: bức tranh cuộc sống sinh hoạt của con người
- Cô gái xay ngô: vẻ đẹp trẻ trung, khỏe mạnh, đầy sức sống, là điểm sáng của bức tranh -> cái nhìn trìu mến hướng về sự sống của Bác. Cái nhìn ấy thế hiện sự quan tâm và tình cảm yêu thương của Người đối với những người lao động nghèo, không phân biệt quốc gia, dân tộc.
- Nghệ thuật điệp: “ma bao túc” - “bao túc ma” đã tạo nên sự nối âm liên hoàn, nhịp nhàng như vừa diễn tả cái vòng quay không dứt của động tác xay ngô vừa thể hiện dòng lưu chuyển của thời gian từ chiều đên tối. Mặt khác, chính chữ “hồng” ở cuối bài thơ cũng giúp người đọc hình dung ra bóng tối đang buông xuống xóm núi.
- Chữ hồng: làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mỏi mệt, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn tả trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay xong ngô tối -> nhãn tự
* Tóm lại: Hình tượng thơ trong Chiều tối vận động thật khỏe khoắn: từ ánh chiều âm u đến ánh lửa rực hổng, ấm áp; từ mệt mỏi đến khỏe khoắn; từ buồn đến vui. Sự vận động này cho thấy tinh thần lạc quan yêu đời của một tâm hồn luôn hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai.
2. Nghệ thuật
- Từ ngữ cô đọng, hàm súc
- Thủ pháp đối lập, điệp liên hoàn…
3. Ý nghĩa văn bản: Vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách nghệ sĩ- chiến sĩ Hồ Chí Minh: yêu thiên nhiên, yêu con người, yêu cuộc sống; kiên cường vượt lên hoàn cảnh, luôn ung dung, tự tại và lạc quan trong mọi cảnh ngộ đời sống
III. Luyện tập: Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều tối
* Gợi ý:
a. Vẻ đẹp cổ điển:
a1.
Vẻ đẹp cổ điển của Chiều tối được thể hiện ở việc sử dụng những hình ảnh ước lệ quen thuộc và bút pháp chấm phá thường thấy trong thơ xưa:
– Hình ảnh cánh chim mỏi bay về tổ và đám môi cô lẻ trôi trên bầu trời.
+ Cánh chim bay mỏi như mang bóng tối phủ dần lên cảnh vật. Câu thơ mang phong vị của thơ cổ, bởi để tả cảnh chiều, thi nhân vẫn thường dùng hình ảnh cánh chim (Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Lí Bạch…).
+ Hình ảnh chòm mây trôi gợi nhớ đến câu thơ của Thôi Hiệu, Nguyễn Khuyến.
-> Tất cả những hình ảnh ấy đã tạo nên một không gian và thời gian cảnh vật quen thuộc, thường thấy trong thơ xưa.
– Không một chữ chiều, chỉ bằng hai nét chấm phá, tả ít gợi nhiều đã làm hiện lên cái hồn của cảnh vật: Cánh chim nhỏ nhoi nhẹ bay mỏi và đám mây lẻ loi nhẹ trôi trên bầu trời.
- Lấy ánh sáng để miêu tả bóng tối (Chữ hồng)
a.2. Vẻ đẹp cổ điển của Chiều tối còn được thể hiện ở đề tài và cấu tứ:
– Đề tài:
+ Một trong những thi đề phổ biến của thơ xưa là:
“Giai thì, mĩ cảnh” (thời gian đẹp, cảnh đẹp): Thi đề này khá phổ biến trong NKTT, bài Chiều tối cũng có thi đề này và cảnh trong bài thơ cũng có những nét của thơ xưa: ước lệ, chân thật, tự nhiên.
Buổi chiều đến với người tha hương chân mỏi trên đường xa cũng là đề tài đã xuất hiện nhiều trong thơ xưa.
– Cấu tứ: Đậm đà mầu sắc cổ điển. Cảnh hoàng hôn gợi cho người đi xa nhớ về quê hương của mình là kiểu cấu tứ thường gặp trong thơ xưa. Nhà thơ Thôi Hiệu đời Đường nhìn thấy một làn khói sóng trên sông buổi hoàng hôn mà nhớ tới quê hương: Quê hương khuất bóng hoàng hôn – Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai (Hoàng Hạc Lâu); Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan.
a.3. Vẻ đẹp cổ điển của Chiều tối còn thể hiện ở thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt:
– Đây là một thể thơ Đường luật đã được nhà thơ sử dụng một cách đắc địa, cô đúc, tài hoa phù hợp với cấu tứ và cảm xúc của bài thơ là một lí do tạo nên màu sắc cổ điển của tác phẩm.
– Các hình ảnh thơ được thể hiện trong một cấu trúc đăng đối: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ – Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không. Cấu trúc đăng đối còn thể hiện trong mối quan hệ giữa hai câu thơ đầu với hai câu thơ cuối: nếu hai câu thơ đầu miêu tả cảnh vật thì hai câu thơ cuối lại miêu ta con người.
a.4. Vẻ đẹp cổ điển còn toát lên từ hình ảnh nhân vật trữ tình giàu tình cảm với thiên nhiên, ung dung hòa hợp với thiên nhiên, vũ trụ:
– Ánh nhìn lưu luyến trìu mến với cảnh vật thiên nhiên của Bác.
– Giữa con người và cảnh vật dường như có sự chan hòa làm một. Người xưa vẫn thường quan niệm, con người là một tiểu vũ trụ, họ ung dung tự tại trước thiên nhiên, chan hòa với cảnh vật. Bởi vậy Bác từng viết: Thơ xưa chuộng cảnh thiên nhiên đẹp – Mây gió, trăng hoa, tuyết núi sông (Cảm tưởng đọc TGT)
b. Vẻ đẹp hiện đại:
b.1. Vẻ đẹp hiện đại thể hiện ở những hình ảnh động, ấm áp, bút pháp tả thực sinh động, những hình ảnh dân dã đời thường:
– Nếu trong thơ xưa cảnh thường tĩnh thì trong thơ Bác cảnh thường vận động hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai. Những cánh chim trong thơ cổ thường bay về chốn vô tận, vô định gợi cảm giác xa xăm, phiêu dạt, chia lìa (Độc tọa Kính Đình Sơn – Lí Bạch) thì cánh chim trong thơ Bác là cánh chim của đời sống hiện thực, nó bay theo cái nhịp bất tận của cuộc sống đang tìm về tổ ấm, đang tìm về chốn nghỉ trong sự sống thường ngày.
– Hình tượng cánh chim trong thơ Bác không chỉ được quan sát ở trạng thái vận động bên ngoài như trong thơ xưa (Cánh chim bay) mà còn được cảm nhận rất sâu ở trạng thái bên trong (cánh chim mỏi mệt).
– Hình ảnh một chòm mây đơn lẻ là một thi liệu cổ điển nhưng trong Chiều tối lại có một sự gần gũi, đồng điệu. Áng mây trôi chậm chạp trên bầu trời mênh mông xa vời gợi liên tưởng đến tâm trạng người tù cũng đang cô đơn, mệt mỏi trên đường chuyển lao xa xôi. Con đường chuyển lao càng xa, khung trời càng rộng, càng khiến lòng người khao khát một chốn dừng chân. Nhưng vẻ đẹp của bài thơ là ở chỗ, nhà thơ đã không để lộ cái cô đơn, mệt mỏi của mình và dù cô đơn, mệt mỏi nhưng thiên nhiên vẫn được người tù cảm nhận bằng ánh mắt lưu luyến, trìu mến chứ không phải cái nhìn buồn chán, cám cảnh.
– Hình ảnh thơ hương về ánh sáng thể hiện bản lĩnh kiên cường của người chiến sĩ cách mạng, bởi không có ý chí và nghị lực thép, không có phong thái ung dung tự chủ, tự do hoàn toàn về tinh thần ở Bác thì cũng khó có được những vần thơ cảm nhận thiên nhiên sâu sắc, tinh tế như thế.
– Hình ảnh bếp lửa hồng là một hình ảnh đời thường dân dã được cảm nhận bằng cảm quan rất hiện đại của thi sĩ.
b.2. Vẻ đẹp hiện đại của Chiều tối còn thể hiện ở hình ảnh nhân vật trữ tình trong quan hệ với thiên nhiên là chủ thể, là trung tâm của bức tranh phong cảnh.
– Nhân vật trữ tình trong thơ xưa thường ẩn đi, chìm đi giữa thiên nhiên nhưng nhân vật trữ tình trong thơ Bác thường hiện ra ở vị trí trung tâm của bức tranh, chiếm vị trí chủ thể trong bức tranh phong cảnh. Bài thơ Chiều tối cũng có đặc điểm như vậy, cho nên bài thơ có mầu sắc cổ điển nhưng vẫn là thơ hiện đại.
- Hình ảnh cô gái lao động vùng sơn cước:
+ Nổi bật thành trung tâm của bức tranh chiều tối tĩnh lặng đã gợi sự ấm áp của cuộc sống nhất là với người tù đang bị đầy ải nơi đất khách quê người.
+ Hình ảnh cô gái xay ngô toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, sống động như chính cuộc sống lao động bình dị đã trở nên đáng quý, đáng trân trọng biết bao giữa rừng núi chiều tối âm u, heo hút. Đây là hình ảnh dân dã đời thường được thể hiện với bút pháp tả thực sinh động của nghệ thuật tả thực hiện đại. Hình ảnh này đã đem đến cho người đi đường lúc chiều tối chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui và hạnh phúc trong lao động của con người. Cô gái đang miệt mài xay ngô bên bếp lửa gia đình, khung cảnh bình dị nhưng thật đầm ấm thân thương của sự sum họp. Nghệ thuật điệp lien hoàn hoán chuyển trong nguyên bản ma bao túc – bao túc ma gợi được vòng quay của chiếc cối xay ngô, sự vất vả của công việc lao động, nhưng cô vẫn miệt mài xay xong.
- Hình ảnh người tù:
+ Dù đang cô đơn, mệt mỏi trên đường chuyển lao nhưng trong khoảnh khắc dừng chân bên xóm núi đã nhanh chóng hòa nhập vào nhịp sống bình dị của người lao động.
+ Bác cảm thông, chia sẻ với người lao động.

....................&&&.....................


TỪ ẤY

                                                                   Tố Hữu
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả: Tố Hữu (1920 - 2002)

- Tố Hữu được đánh giá là “lá cờ đầu của thơ cách mạng” Việt Nam hiện đại
- Thơ trữ tình- chính trị: thể hiện lẽ sống, lí tưởng, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc, truyền thống
2. Bài thơ: thuộc phần Máu lửa của tập thơ Từ ấy, sáng tác tháng 7.1938, đánh dấu mốc quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu
II. Đọc- hiểu văn bản
1. Nội dung

a. Khổ 1: niềm vui lớn
- Hai câu đầu: là mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
+ Từ ấy: khi nhà thơ được giác ngộ lí tưởng cách mạng
+ Động từ bừng, những hình ảnh ẩn dụ nắng hạ, mặt trời chân lí đã nhấn mạnh: ánh sáng lí tưởng mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình cảm
- Hai câu sau: cụ thể hóa ý nghĩa tác động của ánh sáng lí tưởng.
+ Liên tưởng, so sánh “Hồn tôi là một vườn hoa lá- Rất đậm hương và rộn tiếng chim” thể hiện vẻ đẹp và sức sống mới của tâm hồn cũng là của hồn thơ Tố Hữu
b. Khổ 2: lẽ sống lớn
- Ý thức tự nguyện và quyết tâm vượt qua giới hạn của cái tôi cá nhân để sống chan hòa với mọi người, với cái ta chung: buộc, trang trải, trăm nơi để thực hiện lí tưởng giải phóng giai cấp, dân tộc.
- Từ đó khẳng định mối liên hệ sâu sắc với quần chúng nhân dân: Hồn tôi – bao hồn khổ, gần gũi nhau
c. Khổ 3: tình cảm lớn
- Từ những nhận thức sâu sắc về lẽ sống mới tự xác định mình là thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ: sử dụng điệp từ “là” kết hợp với những từ “con”, “em” , “anh” để nhấn mạnh tình cảm thân thiết như người cùng trong một gia đình
- Đối tượng: Kiếp phôi pha, không áo cơm, cù bất cù bơ -> TH đã thực sự đứng vào hàng ngũ của Đảng
2. Nghệ thuật
- Hình ảnh tươi sáng, giàu ý nghĩa tượng trưng
- Ngôn ngữ gợi cảm, giàu nhạc điệu; giọng thơ sảng khoái, nhạc điệu hăm hở…
3. Ý nghĩa văn bản: Niềm vui lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng cộng sản
III. Luyện tập
            Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
                         Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,
                         Mặt trời chân lí chói qua tim.
                         Hồn tôi là một vườn hoa lá,
                         Rất đậm hương và rộn tiếng chim.
                   (Trích Từ ấy, Tố Hữu, Tr 44, SGK Ngữ văn 11,Tập II, NXBGD 2007)

1. Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên?
2. Đoạn thơ được viết theo phương thức biểu đạt nào?
3. Xác định biện pháp tu từ về từ trong đoạn thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó.
* Gợi ý:
1. Nội dung chính của đoạn thơ: nhà thơ trẻ thể hiện niềm vui sướng, say mê của tác giả khi gặp lí tưởng của Đảng.
2. Đoạn thơ được viết theo phương thức biểu đạt biểu cảm.
3. Biện pháp tu từ về từ trong đoạn thơ:
– Hai câu đầu :
+ Biện pháp tu từ ẩn dụ : nắng hạ ; mặt trời chân lí
+ Hiệu quả nghệ thuật: nhấn mạnh ánh sáng lí tưởng mở ra trong tâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình cảm ; nhà thơ có niềm xúc động thành kính, thiêng liêng.
– Hai câu tiếp :
+ Biện pháp tu từ so sánh: hồn tôi- vườn hoa lá…đậm hương…tiếng chim
+ Hiệu quả nghệ thuật: Tác giả đón nhận lí tưởng bằng cả tình cảm rạo rực, say mê, sôi nổi. Niềm vui hoá thành âm thanh rộn ràng như chim hót, thành sắc lá, sắc hoa tươi xanh, rực rỡ, hương thơm lan toả ngọt ngào.

....................&&&.....................
ĐỌC THÊM (Khuyến khích tự đọc)

A LAI TÂN.
1. Nội dung:

- Chỉ bằng ba câu thơ kể, tả bình thản,bộ máy lãnh đạo của huyện Lai Tân hiện ra rõ rệt: ban trưởng: chuyên đánh bạc; cảnh sát trưởng: ăn tiền của phạm nhân; huyện trưởng: vừa hút thuốc phiện vứa bàn công việc => sự thối nát của chính quyền huyện.
- Sắc thái châm biếm mỉa mai ở câu thơ cuối: Đó là thái bình giả tạo, bên ngoài, giấu bên trong sự tha hóa, mục nát thối ruỗng hợp pháp.
Đó là thái bình của tham nhũng,lười biếng, sa đọa với bộ máy công quyền của những con mọt dân tham lam.
Mỉa mai với ý: thái bình như thế thì dân bị oan khổ biết bao nhiêu!
Vẫn y cựu thái bình thiên: sự thật hiển nhiên, đã thành bản chất, quy luật bao năm nay.
2. Nghệ thuật
- Tạo điểm nhấn ở tiếng cuối mỗi câu
- Chọn nhân vật, miêu tả chi tiết
3. Ý nghĩa văn bản: Thực trạng đen tối, thối nát của một xã hội tưởng như là yên ấm, tốt lành
B. NHỚ ĐỒNG.
1. Nội dung:
- Sự gợi cảm của tiếng hò quê hương: không gì lay động bằng âm nhạc, nhất là âm nhạc dân ca. Đó là linh hồn của quê hương, dân tộc. Nó càng có ý nghĩa khi nhà thơ bị giam cầm trong nhà tù.
- Ý nghĩa của những điệp khúc ( 4)
Khắc sâu, tô đậm âm vang của tiếng hò khêu gợi nỗi nhớ quê hương của tg về cảnh quê, người quê.
ĐK 1: nhớ cảnh quê tươi đẹp
bình yên.
ĐK 2: nhớ người nông dân lao động ở quê.
ĐK 3: nhớ về quá khứ, những người thân.Nhớ lúc bản thân tìm thấy chân lí_ lí tưởng sống.
ĐK 4: trở về hiện tại : trưa hiu quạnh tiếng hò vọng vào gợi nỗi nhớ đồng quê triền miên không dứt.
- Tình yêu tha thiết và nỗi nhớ da diết của tg được thể hiện qua nhiều h. a quen thuộc: cánh đồng ,dòng sông, nhà tranh…
Các điệp từ, điệp ngữ: đâu, ôi, ơi, chao ôi ..gắn kết gọi hỏi nong mỏi, hi vọng.
- Cảm nghĩ về niềm say mê lí tưởng của nhà thơ.
Chân thành, hồn nhiên, băn khoăn quanh quẩn cố vùng thoát mà chưa được.
Khi tìm thấy lí tưởng: say mê, sung sướng, nhẹ nhàng như được nâng cánh.
2. Nghệ thuật
Lựa chon hình ảnh gần gũi, quen thuộc, giọng thơ da diết khắc khoải trong nỗi nhớ
3. Ý nghĩa văn bản
Bài thơ là tiếng lòng da diết đối với cuộc sống bên ngoài của người chiến sĩ cộng sản. Nỗi nhớ ấy thể hiện khát vọng tự do, tình yêu nhân dân đất nước, yêu cuộc sống của chính mình
C. TƯƠNG TƯ
1. Nội dung:

- Nỗi nhớ mong và những lời kể lể trách móc của chàng trai là rất chân thành, tha thiết, thể hiện một cách giàu hình tượng.
Tình cảm của chàng trai là chưa được đền đáp.
- Cách bày tỏ tình yêu , giọng điệu thơ , cách so sánh ví von trong bài này có đặc điểm: giàu chất liệu VHDG, tình cảm gắn với quê hương đất nước. Cách bày tỏ từ xa tới gần theo các cặp đôi: thôn Đoài- thôn Đông; một người- một người; nắng- mưa; tôi- nàng; bến- đò; hoa- bướm; cau- giầu.
- Đúng là trong thơ NB có “hồn xưa đất nước” vì ông giỏi vận dụng các chất liệu VHDG vào trong thơ của mình.
2. Nghệ thuật
Hình ảnh của ngôn từ, thể thơ lục bát, cách ví von, giọng điệu và hồn thơ trữ tình dân gian
3. Ý nghĩa văn bản
Vẻ đẹp trữ tình của một tình yêu chân quê, thuần phác
D. CHIỀU XUÂN.
1. Nội dung:

- Chiều xuân ở nông thôn miền Bắc hiện ra thật tĩnh lặng êm đềm với mưa xuân, con đò, hoa xoan, cách đồng lúa…..
- Không khí êm đềm tĩnh lặng.
Nhịp sống bình yên, chậm rãi như có từ ngàn đời.
Những từ ngữ, h. a thể hiện:êm đềm, vắng, biếng lười, nằm mặc, vắng lặng….
Các danh từ chỉ cảnh vật: con đò, dòng sông, đàn sáo…
- Các từ láy gợi tả âm thanh, hình dáng, cảm xúc, không khí: êm êm, tơi bời, vu vơ, rập rờn, thong thả..
2. Nghệ thuật
Sử dụng hình ảnh tiêu biểu cho sắc xuân, lựa chọn từ ngữ gợi hình, gợi âm thanh, miêu tả cái động để nói về cái tĩnh
3. Ý nghĩa văn bản
Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của quê hương mỗi độ xuân về. Tình yêu quê hương, đất nước đã bao trùm lên bức tranh quê buổi “Chiều xuân”

....................&&&.....................

 

TÔI YÊU EM

                                                                                                                  -Pu-skin-

 

I. Tìm hiểu chung

 1. Tác giả:  Alêchxanđrơ Puskin (1799-1837), nhà thơ vĩ đại, mặt trời thi ca Nga, có ý nghĩa to lớn không chỉ trong lịch sử văn chương mà trong cả lịch sử thức tỉnh của dân tộc Nga.

2. Tác phẩm: Bài thơ tình nổi tiếng khơi nguồn từ mối tình có thật nhưng không thành của nhà thơ với Ôlênhia, con gái vị Chủ tịch Viện hàn lâm nghệ thuật Nga, được coi là viên ngọc vô giá trong kho tàng thơ ca Nga. 

 

II. Đọc - hiểu văn bản

1. Nội dung 

a. Bốn câu đầu: những giằng xé trong tâm trạng của NVTT.

- Điệp khúc “Tôi đã yêu em”: Từ giã 1 t/y không thành vừa giãi bày, bộc bạch 1 t/y sôi nổi, nồng nàn.

- “Có thể, chưa hẳn”: khẳng định t/y vẫn còn, t/y say mê, thủy chung chứ không phải là sự đam mê, bồng bột.

- “Nhưng không để...” : Mạch thơ chuyển đổi đột ngột. Đó là tiếng nói điềm tĩnh của lí trí -> Chế ngự tình cảm của mình vì không muốn em buồn phiền.

* Tóm lại: Một tình yêu say đắm, mãnh liệt, biết là đơn phương nhưng vẫn yêu. Tuy rất yêu nhưng luôn biết tự kiềm chế

-> Nét văn hóa trong tình yêu: Yêu là hành vi trao nhận, tình cảm tự nguyện từ 2 phía, không thể ép buộc; đem lại hạnh phúc cho người mình yêu quan trọng hơn là được yêu. Tôn trọng sự lựa chọn của người mình yêu 

 

b. Hai câu tiếp: khổ đau và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình.

- Từ ngữ: Âm thầm, không hi vọng, rụt rè, hậm hực lòng ghen -> bộc lộ rõ mối tình đơn phương của nhà thơ: một tình yêu âm thầm, không hi vọng. Đó là tình yêu "rất con người" với mọi sắc thái muôn thuở: có nỗi đau khổ âm thầm, có niềm tuyệt vọng chua xót, và nhất là cũng rụt rè, ghen tuông như mọi người đàn ông khác. Nhân vật trữ tình không ngại ngần mà chân thành bày tỏ, thú nhận những cái "đời thường" trong tình yêu mà ai cũng có, cũng bị giày vò.

- Cấu trúc câu: Lúc…khi: diễn tả một cách tinh tế những biến động dồn dập, sôi nổi nhưng cũng đầy sóng gió trong tâm hồn chàng trai đang yêu 

c. Hai câu cuối: sự cao thượng chân thành của nhân vật trữ tình.

“Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”: Nuối tiếc, xót xa; Tự tin, kiêu hãnh; cao thượng, vị tha

-> cách ứng xử nhân văn trong t/y. Chân lí nhân bản: T/y chân chính bao giờ cũng đẹp, cũng đáng tự hào ngay cả khi nó không được đáp lại

2. Nghệ thuật

- Ngôn ngữ thơ trong sáng, giản dị và hàm súc

- Giọng thơ chân thực, sinh động, lúc phân vân, ngập ngừng, khi kiên quyết, day dứt,... 

3. Ý nghĩa văn bản: Dù trong hoàn cảnh và tình yêu thế nào, con người cần phải sống chân thành, mãnh liệt, cao thượng và vị tha.

 

 

[Trở về]
Ý KIẾN CỦA BẠN VỀ BÀI VIẾT
Tên của bạn
Email  
Ý kiến
Gửi đi   Hủy bỏ
Các tin khác
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 11 -TUẦN 30 (19/04/2020)
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 11- HKII- TUẦN 29 (19/04/2020)
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 11 -TUẦN 28 (13/04/2020)
ĐỀ THAM KHẢO NGỮ VĂN 11- HKII- NĂM HỌC 2019-2020 (04/04/2020)
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 11- HKII- TUẦN 25 (14/03/2020)
HUONG DAN ON TAP NGU VAN 11, KI DO NGHI DICH COVID 19.docx (24/02/2020)
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 11- HKII- TUẦN 23, 24 (15/02/2020)
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC NGỮ VĂN 11- HKII- TUẦN 20, 21, 22 (08/02/2020)
Open the calendar popup.
 
Bản quyền Trường THPT Lê Quý Đôn
Địa chỉ: 152 Trần Dư, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam    Điện thoại: 0235.3851248
Website: thpt-lequydon.edu.vn
Đơn vị phát triển: Trung tâm CNTT - Truyền thông Quảng Nam (QTI)